Lịch sử Singapore - Tìm hiểu lịch sử hình thành đất nước Singapore

Lịch sử Singapore – Tìm hiểu lịch sử hình thành đất nước Singapore

Theo lịch sử Singapore: Đất nước Singapore chính thức trở thành một nước cộng hòa độc lập vào ngày 9 tháng 8 năm 1965. Tuy nhiên khoảng thời gian trước đó về đất nước Singapore ngày nay thì không phải ai cũng biết. Hãy cùng tìm hiểu vài nét về lịch sử hình thành đất nước Singapore trong bài viết này nhé.

Singapore là một quốc đảo nhỏ nằm ở khu vực Đông Nam Á giữa Malaysia và Indonesia, được tạo thành từ hơn sáu mươi hòn đảo trong đó đảo Singapore là hòn đảo chính còn gọi là đảo Ujong đây cũng là hòn đảo lớn nhất và đông dân nhất.

Singapore vừa là đất nước cũng là thủ đô của chính nó với diện tích khoảng 710 km2 và dân số là 5,47 triệu (số liệu năm 2014). Tuy kích thước không lớn nhưng Singapore được biết đến là một thành phố công nghệ cao, không ngừng phát triển và là một trong những trung tâm thương mại lớn của thế giới, sở hữu những tiện nghi đẳng cấp quốc tế và một tư duy đa văn hóa.

lich su singapore

Lịch sử hình thành đất nước singapore

Lịch sử Singapore ghi nhận: Đất nước Singapore có niên đại từ thế kỷ thứ ba. Sau đó, tầm quan trọng của Singapore tăng lên trong thế kỷ 14 dưới quyền cai trị của hoàng tử SrivijayaParameswara và trở thành một bến cảng quan trọng. Lịch sử hiện đại của Singapore bắt đầu từ năm 1819 khi một người Anh tên là Stamford Raffles thiết lập một bến cảng của Anh Quốc trên đảo. Dưới quyền cai trị thực dân của Anh, Singapore phát triển thành một trung tâm của cả mậu dịch Ấn Độ-Trung Quốc và mậu dịch trung chuyển tại Đông Nam Á, nhanh chóng trở thành một cảng thị lớn.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Đế quốc Nhật Bản xâm chiếm và chiếm đóng Singapore từ năm 1942 đến năm 1945. Khi chiến tranh kết thúc, Singapore trở lại dưới quyền cai trị của Anh Quốc, ngày càng được cấp quyền tự trị lớn hơn, đỉnh cao là việc Singapore hợp nhất với Liên hiệp bang Malaya để hình thành Malaysia vào năm 1963. Tuy nhiên, bất ổn xã hội và tranh chấp giữa Đảng Hành động Nhân dân cầm quyền tại Singapore và Đảng Liên minh cầm quyền tại liên bang khiến Singapore tách khỏi Malaysia. Singapore trở thành một nước cộng hòa độc lập vào ngày 9 tháng 8 năm 1965.

Đối diện với tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng và một khủng hoảng nhà ở, Singapore lao vào một chương trình hiện đại hóa, tập trung vào kiến lập một ngành công nghiệp chế tạo, phát triển bất động sản nhà ở công quy mô lớn và đầu tư mạnh vào giáo dục công. Đến thập niên 1990, đảo quốc trở thành một trong những quốc gia thịnh vượng nhất trên thế giới, với một nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao độ, các liên kết mậu dịch quốc tế hùng mạnh, và GDP bình quân đầu người cao hàng đầu tại châu Á.


  • Singapore thời cổ đại

Năm 1320, Đế quốc Mông Cổ khiển một phái đoàn mậu dịch đến một địa điểm được gọi là Long Nha Môn, được cho là cảng Keppel hiện nay, tại phần nam bộ của đảo. Lữ khách người Hoa Uông Đại Uyên đến đảo vào khoảng năm 1330, mô tả một khu định cư nhỏ được gọi là Đạm Mã Tích (淡馬錫, từ Tamasik trong tiếng Mã Lai) có các dân cư người Mã Lai và người Hoa. Sử thi Java Nagarakretagama được viết vào năm 1365, cũng đề cập đến một khu định cư trên đảo được gọi là Temasek (phố biển). Những khai quật gần đây tại Fort Canning phát hiện được bằng chứng biểu thị rằng Singapore là một bến cảng quan trọng vào thế kỷ 14.

Retrato_de_Parameswara
Chân dung khắc họa Parameswara, người cai trị Singapore trong thập niên 1390.

Trong thập niên 1390, hoàng tử Srivijaya Parameswara chạy sang Temasek sau khi bị Majapahit hạ bệ. Parameswara cai trị đảo trong vài năm, trước khi buộc phải sang Melaka và thành lập nên Vương quốc Malacca tại đó. Singapore trở thành một bến cảng mậu dịch quan trọng của Vương quốc Malacca, và sau đó là Vương quốc Johor. Năm 1613, người Bồ Đào Nha đốt phá khu định cư tại cửa sông Singapore và đảo chìm vào quên lãng.


  • Giai đoạn thành lập Singapore hiện đại (1819)

Năm 1818, Stamford Raffles được bổ nhiệm làm Phó Thống đốc của Thuộc địa Anh tại Bencoolen. Ông quả quyết rằng Anh Quốc nên thay thế Hà Lan trong vai trò là thế lực chi phối trong quần đảo, do tuyến dường mậu dịch giữa Trung Quốc và Ấn Độ thuộc Anh đi qua quần đảo. Người Hà Lan gây khó khăn cho hoạt động mậu dịch của Anh Quốc trong khu vực thông qua việc cấm người Anh hoạt động trong các bến cảng do Hà Lan kiểm soát hoặc đánh thuế cao. Stamford Raffles hy vọng thách thức người Hà Lan bằng việc thiết lập một bến cảng mới dọc theo eo biển Malacca, hành lang chính cho tàu thuyến trên tuyến mậu dịch Ấn Độ-Trung Quốc. Ông thuyết phục Toàn quyền Ấn Độ Francis Rawdon-Hastings và thượng cấp của mình tại Công ty Đông Ấn Anh để họ tài trợ cho một cuộc viễn chinh nhằm tìm kiếm một căn cứ mới của Anh trong khu vực.

StamfordRaffles.jpeg
Chân dung Stamford Raffles người đi đầu trong công cuộc thành lập đất nước Singapore hiện đại 1819

Stamford Raffles đến Singapore vào ngày 28 tháng 1 năm 1819 và nhanh chóng nhận ra đảo là một sự lựa chọn đương nhiên để thiết lập bến cảng mới. Đảo nằm đầu nam của bán đảo Mã Lai, gần eo biển Malacca, và sở hữu một cảng nước sâu tự nhiên, có các nguồn cung nước ngọt, và gỗ để tu bổ tàu. Stamford Raffles phát hiện một khu định cư nhỏ của người Mã Lai, với dân số vài trăm, tại cửa sông Singapore, thủ lĩnh là Temenggong Abdu’r Rahman. Trên danh nghĩa, đảo nằm dưới quyền cai trị của Quốc vương Johor, song quân chủ này nằm dưới sự khống chế của người Hà Lan và Bugis. Tuy nhiên, vương quốc bị suy yếu do phân tranh bè phái và Temenggong Abdu’r Rahman và các quan viên của mình trung thành với anh của Tengkoo Rahman là Tengku Hussein (hay Tengku Long)- người đang sống lưu vong tại Riau. Với trợ giúp của Temenggong, Stamford Raffles tìm cách bí mật đưa Hussein trở về Singapore. Stamford Raffles đề nghị công nhận Tengku Hussein là quốc vương hợp pháp của Johor và cung cấp cho người này một khoản báo đáp hàng năm; đổi lại, Hussein sẽ trao cho Anh Quốc quyền được thiết lập một trạm mậu dịch tại Singapore. Một hiệp ước chính thức được ký kết vào ngày 6 tháng 2 năm 1819 và Singapore hiện đại ra đời.


  • Singapore giai đoạn phát triển ban đầu (1819–1826)

Trong năm bắt đầu hoạt động, trao đổi mậu dịch thông qua Singapore trị giá 400.000$ (đô la Tây Ban Nha). Đến năm 1821, dân số đảo tăng lên khoảng 5.000, và khối lượng mậu dịch là 8 triệu $. Dân số đạt mốc 10.000 vào năm 1825, và khối lượng mậu dịch là 22 triệu $, Singapore vượt qua cảng Penang tồn tại từ lâu.

Ngày 7 tháng 6 năm 1823, John Crawfurd ký một hiệp ước thứ nhì với Quốc vương và Temenggong, theo đó mở rộng thuộc địa của Anh Quốc ra hầu hết đảo. Quốc vương và Temenggong giao lại hầu hết các quyền quản trị của họ đối với đảo, bao gồm cả thu thuế cảng để đổi lấy các khoản báo đáp hàng tháng trọn đời lần lượt là 1500$ và 800$. Hiệp định này đưa đảo nằm dưới hệ thống pháp luật Anh Quốc, với điều khoản là nó sẽ đưa vào chương mục các phong tục, truyền thống và tôn giáo Mã Lai. Stamford Raffles thay thế chức thống đốc của Farquhar bằng một quản trị viên có năng lực và tiết kiệm là John Crawfurd. Trong tháng 10 năm 1823, Stamford Raffles rời đi để về Anh Quốc và sau đó không bao giờ trở về Singapore. Năm 1824, Quốc vương Johor nhượng vĩnh viễn Singapore cho Công ty Đông Ấn Anh.


  • Giai đoạn hình thành các khu định cư eo biển tại Singapore (1826–1867)

 Hiệp định Anh-Hà Lan  năm 1824 củng cố vị thế của Singapore là một thuộc địa của Anh Quốc, chia cắt quần đảo Mã Lai giữa hai cường quốc thực dân mà theo đó khu vực phía bắc của eo biển Malacca, kể cả Singapore, nằm trong khu vực ảnh hưởng của Anh Quốc. Năm 1826, Singapore cùng với Penang và Malacca hợp thành Các khu định cư Eo biển, do Công ty Đông Ấn Anh quản lý. Năm 1830, Các khu định cư Eo biển trở thành một residency, hay phân khu, của khu quản hạt Bengal thuộc Ấn Độ thuộc Anh.

Trong những thập niên sau đó, Singapore phát triển thành một cảng quan trọng trong khu vực. Thành công này có nhiều nguyên nhân, bao gồm mở cửa thị trường tại Trung Quốc, sự xuất hiện của tàu hơi nước viễn dương, và sản xuất cao su và thiếc tại Malaya. Vị thế là một cảng tự do tạo lợi thế quyết định cho Singapore so với các đô thị cảng thuộc địa khác là Batavia (Jakarta) và Manila- những nơi áp thuế quan, và nó thu hút nhiều thương nhân người Hoa, Mã Lai, Ấn Độ, và Ả Rập hoạt động tại Đông Nam Á đến Singapore.

thien phuc cunh
Thiên Phúc cung được hoàn thành năm 1842 nơi thờ phụng của những người dân nhập cư ban đầu

Đến năm 1827, người Hoa trở thành dân tộc lớn nhất tại Singapore. Họ bao gồm những người Peranakan là hậu duệ của những người Hoa định cư ban đầu, và những phu người Hoa kéo sang Singapore để thoát khỏi khó khăn kinh tế tại Hoa Nam. Số lượng người Hoa tăng lên nhờ những người chạy trốn tình trạng rối loạn bắt nguồn từ Chiến tranh Nha phiến thứ nhất (1839 – 1842) và Chiến tranh Nha phiến thứ hai (1856 – 1860). Nhiều người đến Singapore với thân phận lao công khế ước bần cùng hóa và họ chủ yếu là nam giới. Người Mã Lai là dân tộc lớn thứ hai cho đến thập niên 1860, họ làm việc trong các lĩnh vực ngư nghiệp, thủ công nghiệp, hoặc là những người làm công ăn lương trong khi tiếp tục sống chủ yếu trong những kampung (làng). Đến năm 1860, người Ấn Độ trở thành dân tộc lớn thứ hai. Nhóm người này gồm có các lao động không làng nghề, thương nhân, và những tù nhân bị đưa đến để thực hiện các dự án công trình công cộng như phát quang rừng rậm hay làm đường. Cũng có các binh sĩ Sepoy người Ấn Độ được Anh Quốc đưa đến đồn trú tại Singapore. Nhiều khu định cư eo biển tại Singapore được hình thành.


  • Giai đoạn Singapore là thuộc địa vương thất Các khu định cư Eo biển (1867–1942)

Singapore tiếp tục phát triển, những yếu kém trong việc quản lý Các khu định cư Eo biển trở nên trầm trọng và cộng đồng thương nhân của Singapore bắt đầu chống đối mãnh liệt sự cai trị của Ấn Độ thuộc Anh. Ngày 1 tháng 4 năm 1867, chính phủ Anh Quốc chấp thuận thiết lập Các khu định cư Eo biển với vị thế là một thuộc địa vương thất riêng biệt. Thuộc địa mới này nằm dưới quyền quản lý của một thống đốc, được giám sát từ Bộ Thuộc địa tại Luân Đôn. Một hội đồng hành pháp và một hội dồng lập pháp phụ giúp cho thống đốc.Mặc dù các thành viên trong hai hội đồng không do bầu cử, song theo thời gian càng có nhiều đại diện cho dân cư địa phương.

mot ben tau nhon nhip tai tanjong pagar
Hình ảnh một bến tàu nhộn nhịp tại Tanjong Pagar, thập niên 1890.

Chiến tranh thế giới thứ nhất không có ảnh hưởng nhiều đến Singapore: xung đột trong đại chiến này không lan đến Đông Nam Á. Sự kiện quân sự địa phương quan trọng nhất trong thế chiến là binh biến năm 1915 do các binh sĩ sepoy người Hồi giáo Ấn Độ đồn trú tại Singapore tiến hành.[20] Sau khi nghe được những tin đồn về việc có kế hoạch đưa họ đi chiến đấu với Đế quốc Ottoman, các binh sĩ nổi dậy, sát hại những sĩ quan của họ và một vài thường dân Anh Quốc trước khi bị quân đến từ Johor và Miến Điện trấn áp.

Sau chiến tranh, chính phủ Anh Quốc dành nguồn lực đáng kể để xây dựng một căn cứ hải quân tại Singapore, một sự ngăn chặn đối với tham vọng ngày càng tăng của Đế quốc Nhật Bản. Căn cứ hoàn thành vào năm 1939, có đủ thùng nhiên liệu để hỗ trợ cho toàn bộ hải quân Anh Quốc trong sáu tháng. Winston Churchill ca ngợi nó như “Gibraltar của phương Đông.” Tuy nhiên, căn cứ không có hạm đội. Hạm đội Tổ quốc của Anh Quốc đóng tại châu Âu và theo kế hoạch là sẽ nhanh chóng đi đến Singapore khi cần thiết. Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ vào năm 1939, Hạm đội hoàn toàn được sử dụng để bảo vệ Anh Quốc.


  • Singapore giai đoạn là thuộc địa của Nhật Bản (1942–1945)

Vào tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, khởi đầu một cách nghiêm túc Chiến tranh Thái Bình Dương. Singapore là một căn cứ lớn của Đồng Minh trong khu vực, là một mục tiêu quân sự hiển nhiên. Các chỉ huy quân sự của Anh Quốc tại Singapore cho rằng cuộc tấn công của Nhật Bản sẽ đến theo đường biển từ phía nam, do rừng rậm Malaya ở phía bắc sẽ đóng vai trò là một rào cản tự nhiên chống xâm nhập. Mặc dù người Anh Quốc phác thảo một kế hoạch nhằm đối phó với một cuộc tấn công vào bắc bộ Malaya, song việc chuẩn bị chưa hoàn tất. Quân đội Anh Quốc tự tin rằng “Pháo đài Singapore” sẽ kháng cự được bất kỳ cuộc tấn công nào của người Nhật và sự tự tin này được củng cố khi Lực lượng Z đến, đây là một đội các chiếm hạm của Anh Quốc được phái đi phòng thủ Singapore, gồm có HMS Prince of Wales, và HMS Repulse.

quan doi nhat ban chiem dong singapore
Hình ảnh Quân đội Nhật Bản diễu hành trên đường phố Singapore, tháng 2 năm 1942.

Sau khi Tướng Percival người Anh đầu hàng vào ngày 13/ 2/ 1942, quân đội Nhật Bản đã đổi tên thành phố Singapore là Shonan (Quang Nam) hay ánh sáng của phương Nam và coi đây là thủ đô phía nam của Đế Quốc Nhật. Các tù nhân người Âu, người Úc và 2,300 dân thường bị cầm tù tại Changi, nằm tại đầu phía đông của hòn đảo và trong các trại lính Selarang có trên 15,000 tù binh. 45,000 binh sĩ Ấn Độ và 600 lính Mã Lai phải tuyên thệ trung thành với Hoàng Đế Nhật. Những người từ chối hay bất hợp tác với người Nhật bị gửi đi làm lao dịch tại New Guinea, Sumatra hay Thái Lan và 20,000 binh lính Ấn Độ bị áp buộc tham gia vào đội quân quốc gia Ấn (the Indian National Army) để chiến đấu cho nền độc lập của nước Ấn khỏi tay người Anh. Vào thời gian này, người dân Singapore rất sửng sốt khi thấy những người cai trị cũ bị nhốt tù và rất nhiều người Trung Hoa bị trả thù vì đã tham gia vào các phong trào chống Nhật. Tất cả người Hoa thuộc phái nam tuổi từ 18 tới 50 đều bị thanh lọc tại các trại tập trung. Những người bị bắt giữ gồm các giáo chức, nhà báo và cựu viên chức của chính quyền Anh. Số người bị ngược đãi, bị hành hạ gồm từ 5,000 tới 25,000 người, tuy nhiên một số người của lực lượng Dalforce và thuộc các đơn vị không chính quy đã trốn thoát được qua bán đảo Mã lai và họ thành lập đội quân Nhân Dân Mã Lai chống Nhật (the Malayan People’s Army).

Người Nhật còn kêu gọi các thương gia người Hoa tại Singapore gây quỹ 10 triệu đồng tiền Singapore để tỏ lòng cộng tác vào Khối Đại Đông Á (the Greater East Asia Co-Prosperity) bao gồm Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Hoa và vài nước Đông Nam Á Châu. Trên hòn đảo Singapore, các trường học Anh và Trung Hoa phải dạy tiếng Nhật còn các trường học Mã Lai được phép duy trì tiếng Mã vì đây là ngôn ngữ địa phương.

Sự áp chế và hành hạ lúc ban đầu của người Nhật Bản đối với dân chúng Singapore đã khiến cho người dân tại nơi này không hợp tác : phần lớn các gia đình không gửi con em tới trường Nhật khiến cho số học sinh đi học không quá 7,000 em mặc dù có các lớp học tiếng Nhật miễn phí và các phần thưởng, với mục đích dùng tiếng Nhật thay thế tiếng Hoa và tiếng Anh.

Các năm chiếm đóng của quân đội Nhật Bản cũng làm cho nền kinh tế Singapore kiệt quệ, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác đều thiếu thốn, một số thương gia người Hoa đã làm ăn với các viên chức tham nhũng Nhật trên thị trường chợ đen. Nạn lạm phát gia tăng khi chính quyền quân sự Nhật in ra giấy bạc, khắp nơi đều có cảnh đầu cơ, hối lộ, lợi dụng, tham nhũng và vô kỷ luật.

Thực phẩm khan hiếm khiến cho các tù nhân bị giảm khẩu phần. Họ bị hành hạ, bị bắt xây dựng phi trường Changi và công trình này hoàn thành vào tháng 5/ 1945. Các thường dân Singapore cũng bị đưa đi làm đường xe lửa tại Miến Điện, Thái Lan. . ., nhiều người đã bỏ xác tại các công trường nước ngoài.

Ngày 15/ 8/ 1945, quân đội Nhật Bản đầu hàng. Tin tức này đã tới Singapore sau một tuần lễ và trước đó, quân đội Nhật Bản đã lặng lẽ tự rút lui vào trại tập trung ở Jurong. Ngày 05/ 9/ 1945, quân đội Liên Hiệp Anh từ các tầu chiến đổ bộ lên Singapore và được 5 cây số dân chúng đón mừng. Một tuần lễ sau, trước Tòa Thị Chính Singapore, bộ chỉ huy quân sự Nhật Bản đã ký bản văn đầu hàng trước vị chỉ huy tối cao các lực lượng Đồng Minh tại Đông Nam Á là Đô Đốc Lord Louis Mountbatten.


  • Singapore trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1945–1955)

Sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, Singapore rơi vào một tình trạng vô tổ chức trong một thời gian ngắn; cướp bóc và giết người báo thù lan rộng. Các binh sĩ Anh Quốc dưới quyền lãnh đạo của Bá tước Louis Mountbatten trở lại Singapore để tiếp nhận đầu hàng chính thức của lực lượng Nhật Bản trong khu vực từ Tướng Itagaki Seishiro nhân danh Nguyên soái Hisaichi Terauchi vào ngày 12 tháng 9 năm 1945. Một Chính phủ quân sự Anh Quốc được thành lập để quản lý Singapore, tồn tại cho đến tháng 3 năm 1946. Phần lớn cơ sở hạ tầng bị phá hủy trong chiến tranh, kể cả các hệ thống cung cấp điện và nước, dịch vụ điện thoại, cũng như các thiết bị cảng tại bến cảng Singapore. Xảy ra một tình trạng thiếu lương thực dẫn đến thiếu ăn, bệnh tật, tội phạm và bạo lực lan tràn. Giá lương thực ở mức cao, nạn thất nghiệp, và bất mãn của công nhân lên đến cực độ trong một loạt cuộc đình công vào năm 1947 gây đình trệ nghiêm trọng trong giao thông công cộng và các dịch vụ khác. Đến cuối năm 1947, kinh tế bắt đầu phục hồi, được thúc đẩy nhờ nhu cầu ngày càng tăng đối với thiếc và cao su trên khắp thế giới, song phải mất vài năm nữa thì kinh tế mới trở lại mức tiền chiến.

Vào tháng 11/ 1945, Bộ Thuộc Địa Anh đã thiết lập một hội đồng cố vấn (an advisory council) gồm người Singapore để làm việc bên cạnh Cơ Quan Hành Chánh Quân Sự Anh. Trong số 17 nhân viên của Hội Đồng kể trên, có Wu Tian Wang là một cựu lãnh tụ du kích chiến và Chủ Tịch của Ủy Ban Cộng Sản của Singapore vì đảng Cộng Sản vào thời gian này rất được lòng dân chúng địa phương do công cuộc kháng chiến. Vào tháng 1/ 1946, đội quân chống Nhật coi như bị giải tán sau khi lãnh tụ du kích là Chin Peng và các người khác được Lord Mountbatten gắn huy chương, nhưng thực ra đảng Cộng Sản Mã Lai vẫn còn cất giữ rất nhiều vũ khí.

Đảng Cộng Sản Mã Lai vào cuối năm 1945 có vào khoảng 70,000 người ủng hộ, đã dồn nỗ lực vào các tổ chức lao động, thường gây nên các cuộc náo loạn. Cuộc tổng đình công hai ngày vào tháng 1/ 1946 với 173,000 công nhân đã khiến cho việc vận chuyển trong thành phố bị ngưng trệ. Vì thế chính quyền quân sự Anh đã bắt giữ 27 đảng viên Cộng Sản cầm đầu, đưa đi đầy 10 người khác mà không xét xử.

Vào tháng 4/ 1946, Cơ Quan Hành Chánh Quân Sự Anh đã ấn định việc thành lập Liên Bang Mã Lai, trong khi đó Singapore là một thuộc địa hoàng gia biệt lập, có cơ quan hành chánh dân sự. Cả hai quốc gia này chia xẻ về tiền tệ, bưu điện và bưu tín, thuế vụ, hàng không dân sự, quản trị di dân và nền giáo dục cao cấp. Do chống lại việc tách Singapore khỏi Mã Lai mà một đảng chính trị địa phương tên là Liên Đoàn Dân Chủ Mã Lai MDU (the Malayan Democratic Union) được thành lập. Mặc dù phần lớn các người sáng lập không phải là Cộng Sản, nhưng liên đoàn này cũng có các người Cộng Sản như ông Wu Tian Wang. Đồng thời vào tháng 3/ 1946 cũng ra đời Tổ Chức Quốc Gia Mã Lai Đoàn Kết UMNO (the United Malays National Organization) được chính quyền Anh thừa nhận. Singapore vẫn là một thuộc địa hoàng gia ở bên ngoài. Đảng UMNO là đảng phái chính trị hoạt động nhạnh nhất tại Mã Lai vào thời kỳ này, đã chủ trương một liên bang gồm có các quốc gia Hồi giáo và chống lại các đạo luật cho phép nhiều sắc dân có các quyền lợi bình đẳng bởi vì điều này sẽ làm thiệt hại vị thế đặc biệt của người dân gốc Mã.

Vào tháng 8/ 1947 cũng xuất hiện đảng Cấp Tiến (the Progressive Party) gồm các doanh nhân và trí thức được giáo dục tại nước Anh, đảng này có tính ôn hòa. Họat động của các người Cộng Sản Mã Lai thường đưa tới các bạo động và khủng bố (violence and terrorism) nên đã khiến cho chính quyền địa phương ban ra các quy luật khẩn cấp (emergency regulations) hạn chế hội họp và đình công, bắt giữ các người khuấy động mà không xét xử. Đảng Cộng Sản Mã Lai vì thế bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và Liên Đoàn Dân Chủ Mã Lai MDU càng ngày càng trở nên cấp tiến, đã tẩy chay cuộc bầu cử đầu tiên của Singapore vào năm 1947.

Sau một số thành công về chính trị, các người Cộng Sản hoạt động tại Mã Lai nhận thấy rằng họ không thể giành được chính quyền bằng con đường hợp pháp nếu đi theo lịch trình chính trị của chính phủ thuộc địa Anh, vì vậy họ bắt đầu một phong trào đấu tranh võ trang. Chính quyền Anh bèn tuyên bố tình trạng khẩn trương và các người Cộng Sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Trên bán đảo Mã Lai đã xẩy ra cuộc chiến tranh du kích, kéo dài trong 12 năm nhưng tại Singapore đã không có trận chiến nào diễn ra và khuynh hướng thiên tả cũng bị suy tàn dần do các quy luật khẩn trương. Như thế tại Singapore, chỉ còn hai đảng phái là đảng Cấp Tiến và đảng Lao Động (the Singapore Labour Party) được thành lập năm 1948 để rồi 4 năm về sau cũng tan rã.

Các đảng phái có quyền lực vào thời kỳ này gồm các người đã được giáo dục tại nước Anh, thân với chính quyền Anh nên các đường lối chính trị có tính xa cách người địa phương, nhất là các người gốc Trung Hoa, trong khi người Hoa do thiếu cơ hội học lên cao nên đã qua học tại lục địa. Vì thế một nhà kỹ nghệ người Hoa giàu có là ông Tan Lark Sye đã đề nghị và bỏ tiền ra thành lập vào năm 1956 một đại học giáo dục Trung Hoa, đó là Đại Học Nanyang (Nam Dương).

cong dong nguoi hoa tai singapore
Cộng đồng người Hoa tại Singapore mang quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc (viết chữ Tổ quốc vạn tuế 祖國萬歲) nhằm tán dương thắng lợi, cũng phản ánh vấn đề bản sắc Trung Hoa vào đương thời.

Tình hình chính trị tại Singapore cho tới lúc này vẫn còn xáo trộn với các cuộc đình công, với các tổ chức chính trị như Liên Đoàn Công Nhân Xí Nghiệp và Cửa Hàng (the Singapore Factory and Shop Workers ‘ Union), Liên Đoàn Công Nhân Xe Buýt (the Singapore Bus Workers ‘ Union) và Liên Đoàn các Giáo Chức (the Singapore Teachers ‘ Union). Kế đó, Mặt Trận Lao Động (the Labour Front) được thành lập vào tháng 7/ 1954 và vào tháng 11/ 1954 là đảng Nhân Dân Hành Động (the People ‘s Action Party).

Singapore giai đoạn tự trị (1955–1963)

Lãnh đạo của Mặt trận Lao động là David Marshall trở thành thủ tịch bộ trưởng đầu tiên của Singapore. Ông điều khiển một chính phủ yếu, nhận được ít hợp tác từ chính phủ thuộc địa cũng như các chính đảng địa phương khác. Tình trạng bất ổn xã hội gia tăng, và trong tháng 5 năm 1955, bạo động xe buýt Phúc Lợi (Hock Lee) bùng phát, khiến bốn người bị sát hại và chính phủ của Marshall bị mất tín nhiệm nghiêm trọng. Năm 1956, bạo động trung học Hoa văn bùng phát trong các học sinh tại trường Trung học Hoa kiều và các trường học khác, tiếp tục làm gia tăng căng thẳng giữa chính phủ bản địa với các học sinh người Hoa và công đoàn viên-những người được cho là có cảm tình cộng sản.

Trong tháng 4 năm 1956, Marshall dẫn một phái đoàn đến Luân Đôn để đàm phàm về tự trị hoàn toàn, song đàm phán thất bại khi Anh Quốc không sẵn lòng trao quyền kiểm soát nội an của Singapore. Anh Quốc lo ngại về ảnh hưởng cộng sản và các cuộc đình công vốn đang phá hoại ổn định kinh tế của Singapore, và cảm thấy rằng chính phủ bản địa vô dụng trong việc xử lý các bạo động trước đó. Marshall từ chức sau khi đàm phán thất bại.

Tổng tuyển cử nghị hội lập pháp mới được tổ chức trong tháng 5 năm 1959. Đảng Hành động Nhân dân chiến thắng vang dội, giành được 43 trên 51 ghế. Họ đạt được kết quả này là nhờ tranh thủ cộng đồng người Hoa chiếm đa số, đặc biệt là những người trong công đoàn và các tổ chức học sinh cấp tiến. Lãnh đạo đảng là Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng đầu tiên của Singapore.

Mặc dù thành công trong việc quản lý Singapore, các lãnh đạo của Đảng Hành động Nhân dân, kể cả Lý Quang Diệu và Ngô Khánh Thụy, cho rằng tương lai của Singapore gắn với Malaya. Họ cảm thấy rằng những mối quan hệ lịch sử và kinh tế giữa Singapore và Malaya là quá vững chắc để Singapore có thể là một quốc gia riêng biệt, và họ vận động mạnh mẽ nhằm sáp nhập. Trên phương diện khác, phe thân cộng khá lớn của Đảng Hành động Nhân dân thì phản đối dữ dội việc sáp nhập, lo sợ mất ảnh hưởng do đảng cầm quyền tại Malaya là Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất kiên quyết chống cộng và sẽ hỗ trợ cho phe phi cộng trong Đảng Hành động Nhân dân chống lại họ. Vấn đề lên đến đỉnh điểm trong năm 1961, khi bộ trưởng thân cộng của Đảng Hành động Nhân dân là Vương Vĩnh Nguyên ly khai khỏi đảng và đánh bại một ứng cử viên của Đảng Hành động Nhân dân trong cuộc bầu cử bổ sung sau đó, một động thái đe dọa khiến cho chính phủ Lý Quang Diệu sụp đổ.

Đối diện với viễn cảnh những người thân cộng tiếp quản quyền lực tại Singapore, Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất thay đổi quan điểm của họ về hợp nhất. Vào ngày 27 tháng 5, Thủ tướng Malaya Tunku Abdul Rahman, thảo luận ý tưởng về một Liên bang Malaysia, bao gồm Liên bang Malaya, Singapore, Brunei và các lãnh thổ của Anh tại bắc bộ đảo Borneo là Sabah và Sarawak hiện nay. Các lãnh đạo của Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất cho rằng việc bổ sung dân cư Mã Lai tại các lãnh thổ Borneo sẽ bù đắp dân số người Hoa tại Singapore. Ngày 9 tháng 7 năm 1963, các lãnh đạo của Singapore, Malaya, Sabah và Sarawak ký kết Hiệp định Malaysia để thành lập Liên bang Malaysia chính thức chấm dứt thời kỳ tự trị tại Singapore.

Singapore thời kỳ là thuộc địa của Malaysia (1963–1965)

Ngày 16 tháng 9 năm 1963, Malaya, Singapore, Bắc Borneo và Sarawak chính thức hợp nhất và Malaysia hình thành. Chính phủ của Đảng Hành động Nhân dân cảm thấy sẽ khó khăn để Singapore tồn tại như một quốc gia. Singapore thiếu tài nguyên tự nhiên và đối diện với suy giảm mậu dịch trung chuyển cùng dan số tăng trưởng vốn đòi hỏi công việc. Do đó, Singapore cảm thẩy rằng hợp nhất có lợi cho kinh tế khi tạo ra một thị trường tự do chung, loại bỏ thuế quan mậu dịch, giải quyết khủng hoảng thất nghiệp và trợ giúp các ngành công nghiệp mới. Chính phủ Anh Quốc miễn cưỡng trong việc trao quyền độc lập hoàn toàn cho Singapore vì họ cho rằng điều này sẽ cung cấp một nơi ẩn náu cho cộng sản. Liên minh không vững vàng ngay từ đầu, trong tuyển cử cấp bang tại Singapore năm 1963, một chi bộ địa phương của Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất tham gia tranh cử bất chấp thỏa thuận rằng đảng này sẽ không tham gia chính trị của bang trong những năm đầu khi Malaysia hình thành. Mặc dù Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất không thắng cử được ghế nào, song quan hệ giữa họ với Đảng Hành động Nhân dân bị xấu đi. Nhằm trả đũa, Đảng Hành động nhân dân thách thức các ứng cử viên của Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất trong bầu cử liên bang năm 1964, giành được một ghế trong Quốc hội Malaysia.

Căng thẳng dân tộc gia tăng khi người Hoa tại Singapore bất bình trước các chính sách pháp án bình quyền của liên bang, mà theo đó trao đặc quyền cho người Mã Lai dựa theo Điều 153 trong Hiến pháp Malaysia. Cũng có những lợi ích tài chính và kinh tế khác được ưu tiên cho người Mã Lai. Lý Quang Diệu và các lãnh đạo chính đảng khác bắt đầu vận động cho sự công bằng và đối xử bình đẳng với toàn bộ các chủng tộc tại Malaysia.

Trong khi đó, người Mã Lai tại Singapore ngày càng bị kích động trước những cáo buộc của chính phủ liên bang rằng Đảng Hành động Nhân dân ngược đãi người Mã Lai. Tình hình chính trị đối ngoại cũng căng thẳng, Tổng thống Indonesia Sukarno tuyên bố về một tình trạng Konfrontasi (đối đầu) chống Malaysia và bắt đầu các hành động kể cả quân sự nhằm chống lại liên bang mới thành lập, trong đó đặc công Indonesia đánh bom MacDonald House tại Singapore vào ngày 10 tháng 3 năm 1965, khiến ba người thiệt mạng. Indonesia cũng chỉ đạo các hành động dấy loạn để kích động người Mã Lai chống người Hoa. Một số bạo động dân tộc diễn ra, lệnh giới nghiêm thường xuyên được áp đặt nhằm khôi phục trật tự. Nghiêm trọng nhất là cuộc bạo động diễn ra vào ngày 21 tháng 7 năm 1964, tức ngày kỷ niệm sinh nhật nhà tiên tri Muhammad, với 23 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Trong tình trạng bất ổn, giá thực phẩm tăng vọt và hệ thống giao thông bị gián đoạn, gây thêm khó khăn cho nhân dân.

yusof-bin-ishak
Chân dung Yusof bin Ishak vị tổng thống đầu tiên của nước Cộng Hòa Singapore

Vào sáng ngày 9 tháng 8 năm 1965, Quốc hội Malaysia bỏ phiếu với kết quả 126–0 ủng hộ một sửa đổi hiến pháp trục xuất Singapore khỏi liên bang; vài giờ sau đó, Nghị viện Singapore thông qua Đạo luật Độc lập nước Cộng hòa Singapore, kiến lập một nước cộng hòa độc lập và có chủ quyền. Lý Quang Diệu buồn bã tuyên bố trong một buổi họp báo được phát trên truyền hình rằng Singapore đã trở thành một quốc gia có chủ quyền, độc lập. Ông nói rằng: “Đối với tôi, đó là một khoảnh khắc đau đớn. Trong toàn bộ đời tôi, cuộc đời trưởng thành của tôi, tôi tin tưởng vào hợp nhất và thống nhất của hai lãnh thổ. Yusof bin Ishak được bổ nhiệm làm tổng thống đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore.

Nếu nhìn vào đất nước Singapore ngày nay, ít ai ngờ rằng trong quá khứ, Singapore không có ý tưởng về một quốc gia độc lập. Là một thương cảng có vai trò rất quan trọng, nhưng những người sinh sống tại Singapore trước 1963, hầu hết đều đơn thuần chỉ coi đấy là nơi họ làm việc, không phải “nhà” của mình.

Cố Thủ tướng Singapore, ông Lý Quang Diệu chính là người theo đuổi quyết liệt nhất chính sách sáp nhập Singapore với Malay, để hình thành nên đất nước có tên Malaysia. Trong quan điểm của ông, việc dựa vào Malay là cần thiết sau khi người Anh ngày càng kém tin cậy

Nỗ lực này sau đó thành công, nhưng không bền vững. Ngày Singapore buộc phải tách ra khỏi Malaysia, ông Lý đã không cầm được nước mắt. Cảm thấy có lỗi với mọi người và thất vọng về bản thân, đã có thời điểm ông chạy trốn về quê.

Quốc Gia Ngẫu Nhiên (The Accidental Nation) là phần 2 trong loạt phim 3 tập về Lịch sử Singapore do Discovery thực hiện. Đây là quãng thời gian định hình nên những thay đổi vĩnh viễn của Singapore với xuất hiện của một lực lượng chiếm tới 2/3 dân số đảo quốc: Người Hoa.


  • Đất nước Singapore giai đoạn 1965 đến nay

Hai ngày sau khi chia tách Mã Lai – Singapore, chính phủ Lý Quang Diệu đã công bố Singapore là một nước cộng hòa với tiếng Mã Lai là quốc ngữ và các ngôn ngữ chính là tiếng Mã, tiếng Hoa, tiếng Tamil và tiếng Anh. Hội Nghị Lập Hiến được gọi là Quốc Hội (Parliament) và vị lãnh tụ người Mã, ông Yusof bin Ishak, được công nhận là Tổng Thống. Quốc gia mới này liền được các nước Anh, Úc, Tân Tây Lan và Hoa Kỳ công nhận và vào tháng 9, được nhận vào Liên Hiệp Quốc, tháng 10 vào Liên Hiệp Anh. Từ nay các nhà lãnh tụ Singapore phải chuyên tâm xây dựng một quốc gia độc lập. Rồi tới năm 1967, Tổ Chức ASEAN được thành lập gồm Singapore, Mã Lai, Indonesia, Thái Lan và Phi Luật Tân.

Chính quyền Singapore vào thời kỳ này đã cố gắng tạo dựng nên một xã hội nhiều sắc dân và nhiều ngôn ngữ, khuyến khích sự đa dạng về văn hóa. Nền giáo dục bằng tiếng Anh được người dân chú trọng hơn vì sự chuẩn bị vào các khu vực thương mại, kỹ nghệ và chính quyền. Năm 1968 tại Singapore có 300 ngàn em học sinh học tiếng Anh so với 130 ngàn em học tiếng Hoa và 2 ngàn em học tiếng Mã. Tuy nhiên, các học sinh vẫn được khuyến khích học thêm tiếng mẹ đẻ, coi như một ngôn ngữ thứ hai. Chính các nhà lãnh đạo như ông Lý Quang Diệu, cũng gửi các con theo học tại trường dạy tiếng Trung Hoa vì họ tin tưởng nơi đây rèn luyện các đức tính truyền thống tốt hơn. Chính phủ Singapore cũng chống tham nhũng tại mọi tầng lớp hành chánh, chú tâm vào kỷ luật xã hội, nhai kẹo cao bị cấm đoán, việc hút thuốc lá tại nơi công cộng bị phạt nặng. Dưới thời ông Goh Keng Swee và các bộ trưởng tài chánh có tài, chính phủ Singapore đã cố gắng ve vãn tư bản địa phương và ngoại quốc, giúp đỡ các kỹ nghệ xuất cảng, làm thăng tiến mậu dịch, làm sao cho Singapore không lệ thuộc vào nguồn đầu tư tài chánh của nước Anh.

Sau khi ông Suharto lên nắm quyền tại Indonesia vào năm 1966, việc giao thương giữa Singapore và Indonesia được nối lại. Liên lạc buôn bán với Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng gia tăng, nhất là khi người Mỹ tham dự vào cuộc Chiến Tranh Đông Dương.

Một trở ngại lớn cho công cuộc đầu tư tại Singapore là các cuộc tranh cãi và đình công lao động. Vào tháng 8/ 1968, chính phủ Singapore đã thông qua một đạo luật cho chủ nhân các xí nghiệp nhiều quyền hành về tuyển dụng, thăng thưởng và sa thải nhân công, việc giảm bớt số ngày nghỉ phép, tăng giờ làm việc. Công nhân có quyền nghỉ phép lúc đau yếu, lãnh trợ cấp thất nghiệp và có quyền khiếu nại tại Bộ Lao Động và chủ nhân phải đóng góp vào Quỹ Tiết Kiệm Trung Ương (the Central Provident Fund). Nhờ các luật mới này, sản lượng gia tăng và đã không có các cuộc đình công vào năm 1969. Vào đầu thập niên 1970, Singapore và Mã Lai đã tách biệt về tiền tệ, thị trường chứng khoán và hàng không.

Chính phủ Singapore cũng thiết lập nên Đại Công Ty Jurong (the Jurong Town Corporation) và các khu kỹ nghệ khác. Vào năm 1971, 271 xí nghiệp tại Jurong đã xử dụng 32,000 công nhân và còn có hơn 100 xí nghiệp xây dựng. Các nhà đầu tư ngoại quốc bị lôi cuốn tới Singapore vì tình trạng lao động cải tiến, vì thuế nhẹ tới 5 năm, vì tại các xí nghiệp của chính phủ không bị hạn chế chuyển tiền lời và tiền đầu tư về nước. . . Vào năm 1972, đầu tư của Hoa Kỳ đã chiếm 42% tổng số đầu tư ngoại quốc. Ngoài ra còn có các công ty Tây Âu, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Mã Lai, Úc. . . và cũng vào năm này, một phần tư cơ sở sản xuất của Singapore là các công ty liên doanh (joint-venture companies) hay công ty do người ngoại quốc làm chủ.

Một lôi cuốn khác của Singapore về nguồn tư bản ngoại quốc là do tài nguyên về dầu lửa. Singapore đã là căn cứ để khai thác kỹ nghệ dầu mỏ trong vùng, bao gồm cả Indonesia, lại là một nơi tồn trữ và lọc dầu đứng hàng thứ ba trên thế giới vào giữa năm 1970.

Vào tháng 1/ 1968, chính phủ Anh tuyên bố sẽ rút lui trong vòng 3 năm căn cứ quân sự đặt tại Singapore trong khi căn cứ này cung cấp 25% GNP của Singapore tức là vào khoảng 450 triệu đồng tiền, cũng như xử dụng 21,000 nhân công địa phương. Chính phủ của ông Lý Quang Diệu đã đổi Cầu Tầu King George VI thành xưởng đóng tầu Sembawang, dùng lại 3,000 công nhân cũ vào việc đóng và sửa chữa tầu biển. Singapore cũng đi vào ngành kỹ nghệ vận tải hàng hải với Công Ty Neptune Orient Line. Vào năm 1975, Singapore là hải cảng bận rộn thứ ba trên thế giới, sau Rotterdam và New York.

singapore
Hình ảnh đất nước Singapore ngày nay, một đất nước hiện đại và phát triển bậc nhất Châu Á

Sự thành công về kinh tế và sự yên tĩnh trong xứ không phải là không trả giá. Chính quyền Singapore đã kiểm soát chặt chẽ ngành truyền thông, cấm đoán mọi chỉ trích công cộng. Báo chí bị kiểm duyệt. Các người bất đồng chính kiến bị áp chế và chỉ có một đảng phái trên đất nước.

Trên đây là một vài nét về lịch sử Singapore trong quá trình hình thành và phát triển. Để đạt được thành tựu như ngày hôm qua đất nước Singapore cũng đã phải trải qua những giai đoạn đen tối, những giai là thuộc địa phải không nào. Hy vọng rằng với bài viết này sẽ giúp các bạn có thêm được những kiến thức hữu ích về lịch sử đất nước Singapore.

Các thông tin hay khác về singapore được nhiều bạn đọc quan tâm:

Mã vùng Singapore – Hướng dẫn cách gọi điện thoại từ Việt Nam sang Singapore

Bản đồ Singapore: Chi tiết bản đồ giao thông, du lịch, mrt… tại Singapore

Xem thời tiết Singapore – Vài nét cơ bản về khí hậu, thời tiết ở Singapore

Tiền Singapore – Xem tỷ giá đô Sing (tỷ giá SGD) mới nhất hôm nay

Giờ chuẩn Singapore, Giờ Singapore cách Việt Nam bao lâu?

Từ A-Z về sân bay Singapore Changi – Sân bay quốc tế tốt nhất thế giới

Cờ Singapore – ý nghĩa quốc kỳ Singapore mà có thể bạn chưa biết

Tìm hiểu về tiếng Singapore – Người Singapore nói tiếng gì?

About nguyen linh

Check Also

Kinh nghiệm đi tàu điện ngầm MRT ở Singapore

Từ A-Z về MRT Singapore, chi tiết cách đi MRT ở Singapore đơn giản nhất

MRT Singapore được xem là phương tiện công cộng tiện lợi nhất để bạn di ...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

lch-s-singapore-tm-hiu-lch-s-hnh-thnh-t-nc-singapore